T5, 23/07/2020 02:54

Kỳ thú cải lương “quê”

(Tạp chí Thủy sản VN) – Những người đến Việt Nam, nhất là về thăm những vùng nuôi thủy hải sản ở Đồng bằng sông Cửu Long, thường được mời nghe những ban nhạc tài tử ca cải lương, hát vọng cổ. Đó là một nét sinh hoạt văn hóa độc đáo ở vùng sông nước này. Nhưng mấy ai biết được những câu chuyện thú vị về sự ra đời của môn nghệ thuật dân dã và rất quyến rũ này.

Khởi nguồn từ hoang sơ

Cũng như Đồng bằng sông Cửu Long hồi đầu thế kỷ 20 vẫn còn hoang sơ, các nhóm nhạc hình thành tự nhiên, gồm dăm bảy người với nhau, với các nhạc cụ cổ truyền như đàn nguyệt, nhị, trống phách. Theo nhà nghiên cứu đã quá cố Vương Hồng Sển, từ năm 1915 về trước, người ta chỉ hát độc thoại, nói lên tâm sự của mình. Năm 1916 thì người ta bắt chước các vở kịch phương Tây (và có lẽ là cả các vở tuồng truyền thống nữa) mà đặt ra đối đáp, đối thoại với nhau. Đến năm 1918 thì vở kịch đầu tiên ra đời.

Đến ngày nay, cải lương vẫn tồn tại hai hình thức. Các vở diễn, các sân khấu được chuyên nghiệp hóa với kịch bản, những nghệ sĩ có bằng cấp, tồn tại bên cạnh đó là các nhóm tài tử ở các làng quê, biểu diễn các bài bản truyền thống. Du khách đến Việt Nam, có thể thưởng thức các vở cải lương đồ sộ với các diễn viên nổi tiếng. Nhưng khi về với các làng quê, người ta lại thích thú với các nghệ nhân có nghệ thuật biểu diễn điêu luyện, với các làn điệu được biến tấu theo cách của từng địa phương.

 

Đờn ca tài tử là di sản văn hóa tinh thần của người dân ĐBSCL

Những nghệ sĩ lang thang

Những gánh hát cải lương trước đây thường đi qua các làng quê, nấu cơm ăn ở những cái đình, thậm chí cả trụ sở chính quyền địa phương. Khán giả của họ thường đến rất sớm, có khi họ mang theo viên gạch thay cho ghế ngồi. Mỗi khi vở diễn đến cao trào của sự bi thương, thì hàng ngàn người rơi nước mắt, khóc lóc rất thê thảm. Dường như, những nghệ sĩ trên sân khấu đã chạm vào điều gì đó rất sâu thẳm trong tâm hồn của họ, điều mà rất hiếm khi xảy ra đối với những đoàn ca kịch của nhà nước.

Rất nhiều nghệ sĩ trong cái gánh hát đó, nói đúng hơn là một đoàn cải lương tư nhân, không hề biết chữ. Dĩ nhiên, họ cũng không biết đến các lý thuyết âm nhạc của phương Tây mà theo quan niệm của giới hàn lâm thì có thể gọi họ là những kẻ “mù nhạc”. Nhưng khả năng trình tấu thậm chí biến tấu của họ thật tuyệt vời. Chính tổ tiên đã truyền cho họ những kỹ năng ấy. Thứ âm nhạc này chính là tâm hồn của họ, ngôn ngữ của họ, chúng rất tự nhiên, như thể người ta trò chuyện với nhau hàng ngày. Không phải ai khác, những người nghệ sĩ đồng bằng là chủ nhân, là cha đẻ của nghệ thuật đó. Bản thân họ, tự khi sinh ra, đã là nghệ sĩ rồi.

Khi nhà nước tăng cường sự quản lý, hành chính hóa chúng, thì chỉ còn lại các đoàn kịch của nhà nước. Những đoàn kịch tư nhân, các gánh hát lang thang đã dần dần biến mất trong một xã hội được quản lý quy củ, nơi các nghệ sĩ phải có giấy phép mới được biểu diễn. Cho đến bây giờ, không thể biết cái gánh hát với hàng trăm con người kia, đã đi đâu về đâu?

 

Sự trở lại của đàn ca tài tử

Những năm gần đây, khi bạn về với đồng bằng, bạn có thể gặp những người chủ nhân đích thực của cải lương. Ban ngày, họ đi làm trên các cánh đồng, hoặc trò chuyện với nhau bên những li cà phê, buổi tối, hoặc khi du khách yêu cầu, họ sẽ tới và quy tụ với nhau, ca lên những lời ca đã trở thành muôn thủa của xứ đồng bằng. Với những người phương Tây, người ta sẽ ngạc nhiên khi thấy trong các nhóm nhạc này thường không thể thiếu cây đàn ghi ta mà người Việt Nam gọi là Tây Ban Cầm. Chúng là hiện thân cho sự hòa điệu của nhạc cụ phương Tây vào âm nhạc cải lương. Để chúng phù hợp với âm nhạc Việt Nam, người ta đã khoét lõm phím đàn ghi ta, để có thể luyến láy âm thanh, như thể tiếng nói líu lo của người Việt Nam.

Âm nhạc của cải lương, rất khoáng đạt. Giống như nhạc Jazz, người nghệ sĩ cải lương có năng lực biến tấu rất lớn. Người ta gọi thứ âm nhạc này là gấm hoa, nghĩa là mỗi nhạc cụ chơi theo cách riêng của mình, diễn tấu theo cảm xúc, và tạo ra một bức tranh âm nhạc rất nhiều màu sắc. Trên nền tảng đó, những ca sĩ sẽ cất tiếng hát của mình, những ca sĩ này sẽ lựa theo những bài bản mà hát cho phù hợp với ban nhạc. Bởi vậy, mỗi lần nghe cải lương, người ta lại cảm nhận được những âm thanh và xúc cảm khác.

Những con người lam lũ, những người chất phác, chủ nhân của các cánh đồng lúa, của các vựa tôm cá, nhưng đồng thời cũng là những nghệ sĩ sáng tạo không ngừng. Họ đã sáng tạo nên một thứ thuật đặc sắc, có một không hai, rất đỗi tinh tế, nhạy cảm, lãng mạn.

>>  Trở về với cải lương, nghĩa là người ta đã có một hành trình đi ngược về cội nguồn của âm nhạc. Một hành trình tìm về với cội nguồn tâm hồn của người dân đồng bằng.

Nguyên Anh

Bình luận

Chưa có bình luận

Viết bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

LIÊN HỆ
Back to top